Chỉ mục bài viết
Những sai sót cần tránh trong công tác kế toán tài chính
Kiểm soát ngân sách hiệu quả
Khấu hao tài sản cố định
Khi chiến lược không đồng bộ
Mọi con đường dẫn tới kế toán theo giá trị hợp lý
Lợi thế thương mại – những vấn đề cần làm rõ
Tăng cường phân tích báo cáo tài chinh khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động
Tất cả các trang

Những sai sót cần tránh trong công tác kế toán tài chính

Làm công tác kế toán như nuôi con mọn, mỗi nghiệp vụ, mỗi quá trình đều cần tới các thủ tục giấy tờ mà nhiều khi người thực hiện không để ý tới hoặc không lường trước, Một sai sót dù rất nhỏ cũng có thể dẫn đến nhiều phiền phức cho doanh nghiệp, thậm chí có thể tiềm ẩn hậu quả rất lớn, bài viết này xin giới thiệu tới bạn đọc những sai sót nho nhỏ cần tránh khi thực hiện tác nghiệp hoặc hoàn thiện các thủ tục chứng từ kế toán.

Khi mua hoá đơn :

♦ Giấy giới thiệu (GGT)

         • Không ghi rõ đến cơ quan thuế để mua hoá đơn (chỉ ghi chung chung đến liên hệ công tác…)

         • Các chỉ tiêu như số giấy giới thiệu, ngày, họ tên và chức vụ người được cử đi, tên chữ ký của người ĐDPL, đóng đấu …… không rõ ràng. Nhân viên đến mua hoá đơn :

              -  Không mang theo CMND.( Người được giới thiệu )

              -  Khi gần hết giờ hành chánh mới đến liên hệ mua hoá đơn .

             -  Cử người không hiểu biết về hoá đơn chứng từ (như bảo vệ, tạp vụ, nhân viên trực điện thoại…) đi mua hoá đơn .

              -  Không đem theo Phiếu theo dõi tình hình cấp phát hóa đơn ,

              -  Không lập báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn ở ký gần nhất .

              -  Chưa chuẩn bị con dấu khắc Tên DN , Mã số thuế ) để đóng trên liên 2 Sử dụng hoá đơn :

Khi mua hàng : Không nhận hoá đơn tại nơi xuất hàng mà nhận hoá đơn do người bán đem đến (dễ bị nhận hoá đơn giả).

Khi xuất hàng :

         • Không xuất hoá đơn GTGT đối với Hàng hóa Xuất khẩu ,

         • Không xuất hoá đơn đối với doanh thu hàng uỷ thác xuất khẩu.

         • Không lót giấy carbon giữa các liên.

         • Thiếu chữ ký người mua trên hoá đơn.

         • Không ghi thuế suất thuế GTGT . Báo cáo sử dụng hoá đơn : Không lập báo cáo sử dụng hoá đơn theo định kỳ.( Tháng , Quý , Năm ) Các bảng kê hoá đơn bán ra, mua vào

         • Ghi không đầy đủ cột mục theo qui định.

       • Cột ngày chứng từ ghi không theo đúng định dạng 30/01/2002 (ghi sai là 01/30/2002 hoặc 30-Jan-02, 2002-01-30 v.v..)

        • Trong bảng kê HHDV bán ra không ghi đúng thứ tự số hoá đơn đã sử dụng, không kê hoá đơn đã huỹ vào bảng kê, đồng thời cũng dễ bị kê khai trùng nhiều lần cho cùng một hoá đơn.

         • Không lập bảng kê riêng đối với hàng hoá bán ra không chịu thuế GTGT (như hàng đại lý bán đúng giá)

         • Trong bảng kê hoá đơn mua vào không lập bảng kê riêng đối với những hàng hoá dịch vụ phục vụ cho sản xuất, hàng không chịu thuế GTGT.

Kê khai thuế :

        ♦ Kê khai thuế GTGT hàng tháng

                • Thiếu chỉ tiêu 5 (dòng thuế GTGT được khấu trừ)

                • Nhầm lẫn giữa các dòng làm sai lệch nội dung của tờ khai.

               • Nhân viên kế toán làm cho nhiều công ty khác nhau, khi lập tờ khai bằng máy tính quên thay đổi mã số thuế, tên công ty, địa chỉ …. của công ty.

                • Gộp doanh thu và thuế đầu ra của nhiều thuế suất ghi chung vào một dòng

                • Không tính gộp cả doanh thu của HHDV không chịu thuế GTGT vào chỉ tiêu 1.

                • Cấn trừ số thuế phát sinh âm kỳ này với nợ thuế GTGT chưa nộp của kỳ trước.

                • Tính vào số thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá nhập khẩu theo thông báo của Hải Quan, trong khi chưa nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu đó.

                • Kê khai khấu trừ 3% đối với hàng hoá không thuộc diện chịu thuế GTGT, hoặc hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng mua về không phải để bán ra.

                • Không tách riêng bảng kê Hàng hóa dịch vụ mua vào có hóa đơn bán hàng được khấu trừ tỷ lệ 3% . Kê khai thuế thu nhập cá nhân hàng tháng đã chặn trừ tại nguồn :

                • Hàng tháng đã chặn trừ thuế thu nhập của người lao động nhưng chiếm dụng không kê khai và nộp vào ngân sách kịp thời đúng theo qui định của pháp lệnh thuế thu nhập.

                • Những đơn vị có nộp thuế thu nhập cá nhân của người nước ngoài, không lập riêng tờ khai hoặc đã kê khai lẫn lôn giữa người Việt Nam với người nước ngoài.

        ♦ Kê khai thuế Thu nhập doanh nghiệp hàng năm :

                 • Không chủ động kê khai đúng thời gian theo qui định của Luật thuế, bị cơ quan thuế nhắc nhở, xử phạt hành chính.

                 • Đơn vị tính: Nội dung số liệu không tương ứng với đơn vị tính đã ghi bên trên biểu mẫu.

                 • Không ghi đầy đủ các khoản chi phí theo đúng mẫu qui định.

        ♦ Quyết toán thuế GTGT năm

                 • Dòng thuế phải nộp ghi tổng số thuế đầu ra, và dòng thuế đã nộp ghi tổng thuế GTGT đầu vào.

                • Dòng thuế đã nộp năm quyết toán : Ghi sai là số đã nộp cho năm báo cáo (bao gồm cả thuế đã nộp vào tháng 1 năm sau nộp cho tháng 12 năm trước). Đúng ra là số đã thực nộp trong năm báo cáo (bao gồm những chứng từ nộp từ ngày 1/1 đến 31/12 của năm báo cáo, không phân biệt nộp cho năm báo cáo hay truy nộp cho các năm trước).

Hồ sơ báo cáo quyết toán thuế :

          • Không thiết lập đầy đủ hồ sơ về tài sản cố định, mua sắm TSCĐ không có hoá đơn hợp lệ. – Thiếu bảng đăng ký tiền lương; hạch toán chi phí tiền lương nhưng thiếu hợp đồng lao động; bảng lương không có người ký nhận.

          • Thiếu bảng kê hồ sơ quyết toán thuế (liệt kê danh sách hồ sơ đính kèm theo nhằm tránh thất lạc).

         • Doanh nghiệp được thụ hưởng chế độ miễn giảm do ưu đãi đầu tư nhưng quên hoặc không biết cách hạch toán và báo cáo quyết toán với cơ quan thuế; hoặc chờ cơ quan thuế đến kiểm tra để xác định số thuế được miễn giảm.

Nộp thuế :

          • Ghi nhầm tên người nộp là tên cá nhân đi nộp tiền ( Phải ghi tên pháp nhân Doanh nghiệp ).

          • Không nắm rõ các qui định về thời hạn nộp thuế của từng sắc thuế để chủ động nộp trước ngày hết hạn, bị cơ quan thuế nhắc nộp và bị phạt nộp chậm.

         • Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước : Không ghi rõ tài khoản của cơ quan thuế trên giấy nộp tiền, thiếu quan tâm ý nghĩa của những mã hiệu mục lục ngân sách nhà nước có liên quan (cấp, chương, loại, khoản, muc, tiểu mục) để ghi cho đúng.

          • Khi phát sinh khoản phải nộp (không thuộc các loại thuế thông thường) đã không lập tờ khai nộp cho cơ quan thuế.

Hạch toán kế toán

          • Ngay sau khi lập đề nghị hoàn thuế GTGT, doanh nghiệp đã không hạch toán làm giảm số dư nợ, không hạch toán đồng thời vào tài khoản phải thu phải trã, mà vẫn để số thuế nầy được tiếp tục khấu trừ cho kỳ sau.

          • Ngay sau khi nhận được quyết định xử lý, xử phạt… của cơ quan thuế, doanh nghiệp không thực hiện hạch toán ngay vào sổ sách kế toán hiện hành, làm số dư các tài khoản thanh toán với ngân sách khác biệt với sôÌ� liêÌ£u của cơ quan thuế.

          • Sổ sách kế toán áp dụng máy vi tính : Định kỳ hàng tháng không in ra toàn bộ sổ sách phát sinh; sổ đã in ra không có số trang, không có giám đốc và kế toán trưởng ký; không tự đóng dấu giáp lai.

Đăng ký thuế: Thay đổi kế toán trưởng, địa chỉ kinh doanh , tài khoản và ngân hàng , điện thoại, fax, e-mail…. không đăng ký với cơ quan thuế.

Hoàn thuế GTGT

Hồ sơ chứng minh hàng xuất khẩu :

          • Không thuyết minh sự sai biệt giữa hoá đơn và tờ khai Hải quan; giữa hoá đơn và chứng từ thanh toán.

          • Thiếu chứng từ thanh toán hợp pháp đối với hàng xuất khẩu .

          • Không có xác nhận của Hải quan tại ô 47 của tờ khai Hải quan .

Văn thư đề nghị hoàn thuế (mẫu 10/GTGT) không xác định mình thuộc đối tượng cụ thể nào được hoàn thuế (xuất khẩu hay âm luỹ kế 3 tháng v.v…).

Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đề nghị hoàn không khớp với số thuế GTGT đã kê khai hàng tháng (phải điều chỉnh lại số liệu đã kê khai nhầm trước khi lập hồ sơ hoàn thuế).

Phó giám đốc hoặc người được uỷ quyền ký tên vào văn thư đề nghị hoàn thuế GTGT không được xem là hợp lệ.

Tài khoản đề nghị chuyển số tiền thuế GTGT được hoàn không đúng với số hiệu tài khoản và tên ngân hàng đã đăng ký thuế.

Nguồn saga.com.vn


Kiểm soát ngân sách hiệu quả
Ông Quách Chánh Đại Thanh Tâm, giảng viên Khoa Kế toán - Kiểm toán trường Đại học Kinh tế, cho rằng, lập ngân sách đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của DN.
Ngân sách giúp DN đi đúng hướng phát triển và tránh trường hợp chi tiêu quá mức. Nhờ đó, DN sẽ đưa ra kế hoạch thực hiện phù hợp để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Bên cạnh đó, lập ngân sách giúp DN chủ động nguồn tiền, quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn tiền, điều phối các hoạt động tài chính cũng như kiểm soát việc thực hiện kế hoạch tài chính. Không những thế, lập ngân sách còn giúp phối hợp các hoạt động của các bộ phận trong DN, từ đó nêu cao tinh thần tập thể.
 
kiemsoatngansach
 
Việc trao đổi thông tin giữa các bộ phận trong DN khiến mọi hoạt động trong DN minh bạch, rõ ràng. Đây cũng là điều khiến cho các thành viên trong DN thống nhất mục tiêu hoạt động cũng như động viên mọi nguồn lực trong công ty.
 
“Đừng xem lập ngân sách là điều bắt buộc phải làm mà hãy xem đó là việc cần thiết cho DN”, ông Tâm khuyên. Bởi, ngân sách định hướng cho DN kinh doanh trong tương lai; giúp DN biết rõ những nguồn lực hiện có và từ đó tìm cách sử dụng các nguồn lực này hiệu quả.
Ngân sách còn giúp DN hoạt động trong tương lai vì nó giúp DN kiểm soát chi phí và định hướng sản phẩm hoặc dịch vụ nào mang lại nhiều tiền cho DN. Ngân sách cho phép DN quản lý luồng tiền mặt và đảm bảo quyền lợi của nhân viên.
 
Chia sẻ kinh nghiệm lập ngân sách tại buổi gặp mặt của cộng đồng mạng Motibee với chủ đề “Tối ưu hóa hiệu quả với ngân sách” cách đây chưa lâu, ông Dương Minh Hùng, Phó tổng giám đốc Công ty Dược phẩm Thuốc Việt, cho rằng, có nhiều hình thức lập ngân sách như ngân sách ngắn hạn và dài hạn, ngân sách cố định và ngân sách điều chỉnh liên tục, dự thảo ngân sách lũy tiến và dự thảo ngân sách trên cơ sở cân bằng thu chi...
 
Nhưng việc lập ngân sách không chỉ là việc của phòng kế toán như lâu nay mọi người vẫn nghĩ. Theo ông Hùng, việc lập ngân sách là trách nhiệm của toàn công ty. Từng bộ phận sẽ tự xây dựng ngân sách, phòng kế toán sẽ tập hợp lại và đưa ra những đề xuất phù hợp sau đó trình ban giám đốc quyết định.
 
Ngoài ngân sách chung của công ty, phòng kế toán còn chịu trách nhiệm thông báo về giới hạn ngân sách cho mỗi phòng ban vào hằng tháng để họ cùng phối hợp kiểm soát ngân sách của họ.
Cùng quan điểm với ông Hùng, ông Lê Văn Minh, Trưởng bộ phận Tài chính Kế toán Công ty TNHH Yujin Vina, khuyên rằng, nên lập kế hoạch dòng tiền theo năm, tháng, tuần, thậm chí theo ngày và kiểm soát, điều chỉnh liên tục vì các khoản thu, khoản chi có thể không đạt được thời hạn như trong kế hoạch.
 
Ngoài ra, cần có ngân sách dự phòng cho những trường hợp thiếu hụt dòng tiền. Việc cải thiện dòng tiền của công ty cần sự kết hợp của nhiều bộ phận như kinh doanh, mua hàng, marketing... để việc chi trả được tiến hành sớm, đảm bảo thu hồi vốn sớm cho công ty đồng thời giúp các bộ phận này có biện pháp sắp xếp công việc cũng như việc chi tiêu ngân sách.
Nói tóm lại, nhiệm vụ của phòng tài chính kế toán là chỉ cho ban giám đốc và những bộ phận khác nguồn tiền ở đâu, và làm cách nào tiếp cận được nó.
Ngoài việc lập và quản lý ngân sách hiệu quả, trong thời điểm này, điều mà DN quan tâm là làm sao để cắt giảm chi phí. Theo ông Tâm, nên chú trọng các vấn đề về quản lý tiền mặt, quản lý công nợ, tối ưu hóa và tinh giản các hoạt động...
 
Trong tối ưu hóa và tinh giản các hoạt động, cần chú ý đến việc giảm chi phí bán hàng, tối ưu hóa chi phí nhân sự, giảm chi phí chung và các chi phí... Nhưng cắt giảm chi phí như thế nào để không ảnh hưởng đến hoạt động chung của công ty và khi nào nên cắt?
 
theo các chuyên gia, trong một số trường hợp, điện thoại là một trong những chi phí được xếp vào tổn phí cần phải cắt giảm mạnh. Bên cạnh đó, các chi phí khác như marketing, PR... đôi khi cũng có thể không mang lại hiệu quả, thậm chí phản tác dụng.
 
Chẳng hạn, DN cố gắng thu hút nhiều khách hàng nhưng lại chưa chuẩn bị tốt để chăm sóc, phục vụ khách hàng tốt thì việc PR hay marketing cho hoạt động này dễ dẫn đến phản tác dụng.
Vì vậy, cần phải thận trọng trong các chi phí dành cho hoạt động quảng bá để tối ưu hiệu quả. Tuy nhiên, trước khi quyết định cắt giảm chi phí, DN nên cân nhắc kỹ vì “siết chặt chưa chắc là việc tốt vì đi kèm đó hiệu quả làm việc sẽ bị giảm thiểu.
 
Trong trường hợp trước giờ chúng ta khá hào phóng trong việc sử dụng nhân sự thì nên xem xét lại việc phân bổ công việc có hợp lý chưa. Nên giao đúng người đúng việc để tinh giản bộ máy.
Các chi phí marketing cũng vậy, việc cắt giảm đôi khi là con dao hai lưỡi, giảm marketing có thể dẫn theo giảm doanh số cho nên cần cân nhắc kỹ”, ông Tâm khuyên.
 
Theo saga

Khấu hao tài sản cố định

Khấu hao tài sản cố định liên quan đến việc hao mòn tài sản mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có công tác này. Bạn đã thực hiện công tác khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp mình như thế nào? Sau đây Trung tâm Kế toán Bình Minh xin chia sẻ một số thông tin về những phương pháp khấu hao tài sản cố định thường gặp mà bạn lưu tâm.
khau-hao-tai-san-co-dinh
Khấu hao tài sản cố định là gì?
Khấu hao là việc định giá, tính toán, phân bổ một cách có hệ thống giá trị của tài sản do sự hao mòn tài sản sau một khoảng thời gian sử dụng. Khấu hao tài sản cố định được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng tài sản cố định. Khấu hao tài sản cố định liên quan đến việc hao mòn tài sản, đó là sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng do tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, do hao mòn tự nhiên hoặc do tiến bộ khoa học công nghệ.
Khấu hao là một thuật ngữ sử dụng trong kế toán mô tả phương pháp phân bổ chi phí của tài sản cố định trong suốt tời gian sử dụng của nó tương đương với mức hao mòn thông thường. Khấu hao thường áp dụng với các loại tài sản có thời gian sử dụng cố định, mất dần giá trị trong quá trình sử dụng. Nói cách khác, khấu hao là sự phân bổ dần giá trị tài sản cố địnhvào giá thành sản phẩm nhằm tái sản xuất TSCĐ sau khi hết thời gian sử dụng.
Các phương pháp khấu hao tài sản cố định
Việc khấu hao tài sản có tác động trực tiếp lên các báo cáo tài chính, cụ thể là tới thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khấu hao không phải là khoản chi thực tế bằng tiền, mà chỉ được trích trên sổ sách, nên nói không ảnh hưởng nhiều đến dòng tiền thực tế của doanh nghiệp ngoài việc tác động đến khoản thuế phải nộp.
Khấu hao TSCĐ là một yếu tố chi phí trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp nên việc lập kế hoạch khấu hao TSCĐ nằm trong nội dung của công tác lập kế hoạch tài chính của doanh nghiệp và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp.
Phương pháp khấu hao tuyến tính cố định
    Phương pháp này còn được gọi là khấu hao đường thẳng, theo đó, mức khấu hao cơ bản hàng năm là đều nhau trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ và được xác định bằng nguyên giá TSCĐ chia cho thời gian sử dụng (thời gian doanh nghiệp dự kiến sử dụng TSCĐ).
    Phương pháp khấu hao này có ưu điểm là việc tính toán đơn giản, tổng mức khấu hao của TSCĐ được phân bổ đều đặn trong các năm sử dụng và không gây ra sự đột biến trong giá thành sản phẩm hàng năm. Nhưng phương pháp này có nhược điểm là trong nhiều trường hợp không thu hồi vốn kịp thời do không tính hết được sự hao mòn vô hình của TSCĐ (sự giản thuần túy về mặt giá trị của TSCĐ mà nguyên nhân chủ yếu là do sự tiến bộ của khoa học và công nghệ).
Phương pháp khấu hao nhanh
    Để thu hồi vốn nhanh, doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp khấu hao nhanh. Hai phương pháp khấu hao nhanh thường được sử dụng là phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần và khấu hao theo tổng số các năm hay gọi tắt là phương pháp khấu hao theo tổng số.
    Ưu điểm của các phương pháp khấu hao nhanh là thu hồi vốn nhanh, giảm được tổn thất do hao mòn vô hình, đồng thời đây là một biện pháp “hoãn thuế” trong những năm đầu của doanh nghiệp. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là có thể gây nên sự đột biến về giá thành sản phẩm trong những năm đầu do chi phí khấu hao lớn, sẽ bất lợi trong cạnh tranh. Những doanh nghiệp kinh doanh chưa ổn định, chưa có lãi thường không áp dụng phương pháp khấu hao này.
    Ngoài ra, còn có phương pháp khấu hao theo công suất, nghĩa là khấu hao dựa trên số sản phẩm sản xuất ra.
Theo misa
Trích từ: http://www.kynang.com.vn/

Khi chiến lược không đồng bộ

Hãy phân tích minh họa về công ty âm nhạc Napster. Thành lập năm 1999, công ty thu hút được 80 triệu người sử dụng đăng ký với mục tiêu giá trị là: đơn giản, phần mềm âm nhạc dễ sử dụng và sắp xếp các bài nhạc, dễ truy xuất và dễ dàng chia sẻ giữa các máy tính trên toàn thế giới. Tuy nhiên, trong vòng một năm, Napster bắt đầu lâm nguy.

Các hãng thu âm đĩa lo ngại rằng việc chia sẻ âm nhạc tự do như thế sẽ phá hủy doanh số của họ bèn gặp Napster để tìm kiếm một mô hình chia sẻ doanh thu có lợi cho cả hai bên. Nhưng sự hào hứng thái quá trước tốc độ tăng trưởng ngoạn mục đã khiến Napster không nhận thấy rằng họ cần một mục tiêu con người hướng đến các đối tác thu âm quan trọng này.

Thay vì tìm cách đạt được một thỏa thuận hai bên cùng có lợi với các hãng thu âm, Napster tuyên bố một cách đầy thách thức rằng họ sẽ tiếp tục bất kể có sự hỗ trợ từ ngành công nghiệp âm nhạc hay không.

Phần còn lại đã thuộc về lịch sử: Napster buộc phải đóng cửa vì các vụ kiện vi phạm bản quyền trước khi công ty kịp hoàn thành mục tiêu lợi nhuận và hưởng lợi từ cơ sở người dùng khổng lồ của mình. Không có được sự đồng bộ giữa ba nhóm mục tiêu, sáng kiến tạo dựng thị trường của Napster không thể trở thành một thành công trên phương diện thương mại.

 

1110gopvon.jpg

 

Đối lập với hình ảnh của Napster là Apple. Công ty trình làng sản phẩm iTunes Music Store vào năm 2003, và sau 5 năm, nó đã trở thành kênh bán nhạc hàng đầu ở thị trường Mỹ. Giống như Napster, iTunes cũng có mục tiêu giá trị rất hấp dẫn: Cửa hàng âm nhạc trực tuyến của nó cho phép người mua thoải mái chọn lựa trong hơn 200.000 bài nhạc, kể cả những bản nhạc độc quyền, nghe thử 30 giây và tải về từng bài hát với giá 99 xu hoặc 9.99 USD cho cả album. Hơn nữa, iTunes còn đảm bảo chất lượng âm thanh tuyệt hảo của bài nhạc cùng với các chức năng như thu thập thông tin trực giác, tìm kiếm và nghe lướt.

Nhưng Apple không dừng lại ở đó. Công ty tiếp tục xây dựng một mục tiêu con người rất hấp dẫn cho năm công ty âm nhạc lớn. Nhờ năng nổ tháo vát, Apple đã nhận được sự ủng hộ từ các công ty như BMG, EMI Group, Sony, Universal Music Group và WarnerBros. Tất cả các bản nhạc tải về đều được đảm bảo về bản quyền và các công ty âm nhạc sẽ nhận được 65 xu cho mỗi bài nhạc được tải. Và vì iTunes không chỉ hái ra tiền từ mỗi bài nhạc bán được mà còn từ doanh số tăng theo của sản phẩm iPod vốn đang rất thịnh hành, công ty đã tạo ra một chu kỳ lợi nhuận mạnh mẽ giữa hai nền tảng.

Sự đồng bộ ba mục tiêu giá trị, lợi nhuận và con người của iTunes không chỉ mở ra một kỷ nguyên âm nhạc mới mà còn tạo ra lợi thế rất khó sao chép mà cho đến ngày nay vẫn chưa có một cửa hàng âm nhạc trực tuyến nào có thể xây dựng một nền móng vững chắc như thế trong ngành công nghiệp âm nhạc.

Câu chuyện về Napster/iTunes vốn đã quá phổ biến. Dù các sáng kiến đổi mới nhằm vào việc tạo ra các thị trường mới rõ ràng có tầm quan trọng chiến lược đối với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của tổ chức, chúng ta đều biết rằng nhiều trường hợp chỉ dẫn đến thành công ngắn hạn hoặc thất bại tức thì.

Hãy tự hỏi mình rằng: Công ty nào đi tiên phong trong việc sáng tạo ra chiếc máy thu hình? Khi chúng tôi hỏi những người ở vị trí điều hành hay những thạc sĩ MBA câu này, đa phần câu trả lời luôn là Sony hoặc JVC. Khi chúng tôi hỏi công ty nào phát minh ra chiếc máy tính cá nhân đầu tiên, câu trả lời luôn là IBM hoặc Apple. Dĩ nhiên đó là những câu trả lời sai. Đầu máy thu hình được một công ty có tên Ampex phát minh ra. Còn chiếc máy tính cá nhân đầu tiên là sản phẩm của công ty MITS (Micro Instrumentation and Telemetry Systems).

Chúng ta nhớ đến Apple, IBM, Sony và JVC bởi vì họ là những công ty đầu tiên đạt được sự đồng bộ trong chiến lược, và nhờ thành công về thương mại mà những công ty này thiết lập được chỗ đứng cho thương hiệu của mình trong thị trường. Trong hai mươi năm nữa, bạn sẽ nhớ công ty nào, Apple hay Napster, trong vai trò người tiên phong trong lĩnh vực âm nhạc trực tuyến?

Bài học chính ở đây là các nhà quản lý đừng nên quá hào hứng với bản chất của sáng tạo. Nó chỉ là bước khởi đầu. Khác biệt thực sự giữa thành công và thất bại chính là ở sự đồng bộ của chiến lược. Đến khi các giám đốc điều hành thấm nhuần bài học này thì hàng tỷ đô la sẽ tiếp tục bị lãng phí cho thất bại của những sáng kiến tạo lập thị trường.

Thách thức dành cho quản lý

Hiện có ngày càng nhiều doanh nghiệp, chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận phải đối mặt với các điều kiện môi trường và cơ cấu không thuận lợi, các nhà lãnh đạo không còn có thể phó mặc cho thông lệ trước nay là để cơ cấu quyết định chiến lược trong mọi tình huống. Những khó khăn kinh tế mà các tổ chức ngày nay phải đối mặt chỉ làm nổi bật lên tầm quan trọng của hiểu biết về cách chiến lược hình thành cơ cấu.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là phương pháp chủ nghĩa cơ cấu không còn hữu dụng nữa. Thử lấy bất kỳ công ty kinh doanh đa ngành nghề nào làm ví dụ. Nhiều đơn vị kinh doanh khác nhau sẽ phải đối mặt với nhiều điều kiện cơ cấu khác nhau với nhiều nguồn lực và năng lực khác nhau và có nhận thức về chiến lược cũng rất khác nhau; một phương pháp chủ nghĩa cơ cấu sẽ phù hợp hơn với một số đơn vị trong khi những đơn vị khác lại cần đến phương pháp chủ nghĩa tái xây dựng.

Những giả định và lý thuyết của hai trường phái chiến lược này rất khác biệt nhưng cả hai đều có thể được vận dụng để giải quyết những điều kiện kinh doanh và cơ cấu vốn rất đa dạng và liên tục thay đổi mà các tổ chức hiện và sẽ phải đối mặt.

Do đó, thách thức đặt ra cho các nhà lãnh đạo là phải đảm bảo thực hiện một cuộc tranh luận lành mạnh để chọn phương pháp chiến lược thích hợp cho mỗi doanh nghiệp, và sau đó, hãy nhập cuộc bằng tinh thần của khuôn khổ để phát triển một chiến lược đúng đắn cho đơn vị - liệu nó là mô hình chiến lược cạnh tranh theo chủ nghĩa cơ cấu hay mô hình chiến lược đại dương xanh theo chủ nghĩa tái xây dựng? Bạn và tổ chức của bạn đã sẵn sàng cho điều này chưa?

  theo Tạp chí kế toán

Trích từ: http://www.tapchiketoan.com


Mọi con đường dẫn tới kế toán theo giá trị hợp lý

Chỉ nhắc đến cụm từ này cũng đủ để rộ lên tin đồn và lời bàn tán trong giới tài chinh kinh tế, đặc biệt trong kỷ nguyên về khủng hoảng tín dụng toàn cầu chưa từng có trong lịch sử kể từ cuộc khủng hoảng cho vay và tiết kiệm vào thập niên 1990. Sự sụp đổ của Bear Stearns và IndyMac cộng hưởng với làn sóng suy giảm lớn về bảng cân đối kế toán (CĐKT) ngân hàng phố Wall hoàn toàn là chủ đề doanh nghiệp của năm 2008, và cùng với đó là kế toán theo giá trị hợp lý.

Dù thích hay không thích thì sau khi cả thế giới thực hiện Hiệp ước Basel II và chứng nhận Chuẩn mực BCTC Quốc tế (IFRS) của Ủy ban Chuẩn mực Tài chính Quốc tế (IASB), kế toán theo giá trị hợp lý đã trở thành xu hướng chủ đạo của những người lập ra Chuẩn mực kiểm toán và kế toán. BCTC quốc tế đã phát triển trên một chặng đường dài kể từ bài giới thiệu của Luca Pacioli, từ kế toán theo chi phí gốc đến các hình thức kế toán hiện đại như kế toán theo chi phí hiện hành và kế toán theo sức mua hiện hành, quay trở lại kế toán theo chi phí gốc trước khi chuyển sang kế toán theo giá trị hợp lý như hiện hành.

BCTC theo chi phí gốc thực sự đã lỗi thời?

Kế toán theo chi phí gốc vẫn mang tính thời đại qua nhiều thập kỷ và đã thể hiện tốt vai trò cho tới khi toàn cầu hóa trở thành xu hướng mạnh mẽ, dẫn đường thế giới tài chinh tiến vào một kỷ nguyên mới với sự sinh sôi nảy nở các sản phẩm tài chinh có độ phức tạp đến khó tin. Các nỗ lực sáng tạo nhằm “cơ cấu” lại bảng CĐKT bà lợi nhuận phải giương mắt nhìn các công cụ đạo hàm tài chinh chiếm vị trí trung tâm tới mức được coi như “vũ khí tài chinh hủy diệt lớn”, lên đến đỉnh điểm khi Enron và Worldcom sụp đổ đầu năm 2000. Nhiều doanh nghiệp khám phá ra phương thức phá vỡ kế toán theo chi phí gốc bằng cách sử dụng đạo hàm tài chinh để nâng cao lợi nhuận và tăng giá trị bảng CĐKT nhờ vào kết luận sau cùng mà hệ thống BCTC có được tại thời điểm đó. Chuỗi các doanh nghiệp sụp đổ vào đầu năm 2000 đã khiến bánh xe biến động di chuyển, đẩy các giám sát viên trên toàn thế giới vào thế phải cân nhắc một loại hình kế toán mới, và từ tro tàn, kế toán theo giá trị hợp lý xuất hiện theo cách đó. Bất kể tính phức tạp của IFRS, kế toán theo giá trị hợp lý cần có sự phản ánh các tài sản chính và nợ tài chinh được bán theo giá mà người mua và người bán đều hài long. Tất cả các sản phẩm (hay công cụ) tài chinh không thể tiếp tục nằm ngoài suy xét của các nhà đầu tư; lỗ hay lãi giờ đây đã được ghi nhận thậm chí trước khi các công cụ tài chinh trở nên hoàn thiện, và thực sự nhà đầu tư sẽ nhìn ra được hiệu quả kinh tế và tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp.

Các công ty đều kêu than do khối lượng các gánh nặng BCTC tăng lên, nhà đầu tư gắng tin vào báo cáo doanh nghiệp, còn các giám sát viên thở ra tiếng thở nhẹ nhõm. Vì thế câu chuyện tiếp tục cho đến khi khủng hoảng tín dụng toàn cầu mới đây bắt đầu với sự bùng nổ vô lý của nền kinh tế Hoa Kỳ. Tiêu chuẩn cho vay thấp do các tổ chức tài chinh đưa ra nhằm tiếp liệu cho sự tăng trưởng nhà đất trong những năm gần đây khiến “bong bóng nhà đất” vỡ tan dưới tác động giá dầu tăng và tỷ suất không trả nợ được cũng tăng. Công cụ và công cụ phái sinh có thu nhập cố định gắn liền với các khoản cho vay nhà đất trong chứng khoán hóa tài sản theo đó đã phải chịu hậu quả thua lỗ do không trả được nợ và phải đăng ký trước những khoản thua lỗ sao cho phù hợp với kế toán theo giá trị hợp lý. Sự tin tưởng và niềm tin vào mức tín nhiệm giữa các tổ chức tài chinh đã giảm sút tới mức thấp nhất trong mọi thời đại. Do đó khả năng thanh toán kém hiệu quả khi việc các tổ chức tài chinh cho vay đã đến lúc chấm dứt. Điều này làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng niềm tin bất kể các nỗ lực của Cục Dự trữ Liên bang nhằm khôi phục lại thị trường.

Thú vị là sự suy giảm được ghi nhận trong bảng CĐKT của các doanh nghiệp đã khởi đầu chuỗi phản ứng trên toàn bộ thị trường tài chinh do nợ của doanh nghiệp là tài sản của doanh nghiệp theo một số loại hình đầu tư. Do vây, nợ không trả được của một doanh nghiệp trở thành tài sản nợ của một doanh nghiệp khác trong chuỗi xoắn ốc tài chinh đi xuống bởi giá giao dịch chứng khoán là nguồn tham chiếu trước nhất được sử dụng khi muốn kế toán theo giá trị hợp lý (tùy từng thời điểm mà coi đó là định giá theo thị trường). Vì trung thành với tâm lý học đầu tư nên việc đổ vấy trách nhiệm cho người khác trở thành thú vui tao nhã ưa thích của các tổ chức đánh giá tín dụng như Standard & Poor’s và Moody’s đã phải chịu gánh nặng chỉ trích và tất nhiên cả kế toán theo giá trị hợp lý.

Liệu khủng hoảng tín dụng toàn cầu có khi trừ kế toán theo giá trị hợp lý?

Các chuyên gia phân tích tài chinh (CFA) thuộc Trung tâm Hội nhập thị trường Tài chính tiến hành khảo sát nội bộ chính các thành viên CFA vào tháng 3/2008 thu được kết quả giật mình: Trong khi 55% người được hỏi phát biểu rằng các yêu cầu đối với giá trị hợp lý làm xấu thêm khủng hoảng tín dụng toàn cầu, 79% ý kiến lại cho rằng các yêu cầu giá trị hợp lý tăng cường tính minh bạch, góp phần giúp nhà đầu tư hiểu rõ hơn về các dạn rủ ro của các tổ chức tài chinh. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương và các Bộ trưởng Tài chính nhóm G-7 thúc giục IASB nâng cao chuẩn mực về công bố thông tin kế toán dành cho các hạng mục không nằm trong bảng CĐKT, nâng cao chất lượng chỉ đạo kế toán theo giá trị hợp lý, đặc biệt các hướng dẫn về đánh giá công cụ tài chinh trong thời kỳ khủng hoảng. Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng hứa hẹn hợp tác với những người thiết lập chuẩn mực kế toán và kiểm toán nhằm thúc đẩy chất lượng hướng dẫn đối với các ước tính giá trị hợp lý dành cho mục đích BCTC và thẩm định bởi kiểm toán viên.

Thực chất, mọi con đường đều dẫn tới kế toán theo giá trị hợp lý! Các chuyên gia phân tích tài chinh của Trung tâm Hội nhập thị trường Tài chính thậm chí khẳng định lại họ sẽ hỗ trợ kế toán theo giá trị hợp lý thành một trong những thước đo minh bạch nhất dành cho các nhà đầu tư ưa phân tích báo cáo tài chinh. Họ cho rằng giá trị hợp lý đang được các công ty sử dụng như một công cụ “giơ đầu chịu báng” trong khi các công ty này có những quyết định thiếu sáng suốt và không tuân thủ các chuẩn mực kế toán.

Kế toán theo giá trị hợp lý ở Malaysia

Điểm nhấn ở đây trong các yêu cầu BCTC của IAS 32 Các công cụ tài chinh: Giới thiệu, IAS 39 Các công cụ tài chinh: Ghi nhận và Đo lường, và IFRS 7 Các công cụ tài chinh: Công bố thông tin đã không bị lạc lối trên mặt trận địa phương. Ngày 1/8/2008 các chuyên gia tài chinh kế toán Malaysia đã bừng tỉnh khi nghe báo cáo chi tiết của Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Malaysia (MASB) về việc thông qua IFRS và nhất trí với chuẩn mực IASB. Với IFRS 139 Các công cụ tài chinh: Ghi nhận và Đo lường (có hiệu lực từ ngày 1/1/2010). Malaysia đương nhiên không thể tảng lờ kế toán theo giá trị hợp lý để tiến tới làm quen và trở nên thông thạo mô hình BCTC kiểu mới này. Trong khi việc điều chỉnh theo giá thị trường có thể tương đối đơn giản, cũng nên sẵn sàng khám phá và hiểu sâu các mô hình tài chinh đã từng là công cụ đánh giá giá trị không thể giao dịch được (ví dụ như hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn), hay còn được biết đến là các điều khoản định giá theo thị trường.

Mặc dù sắp xảy ra thay đổi lớn trong lập và trình bày BCTC như các chuyên gia kế toán trong nước vẫn còn hiểu biết sai lệch về IFRS 139 chỉ áp dụng với các tổ chức tài chinh. Điều này chỏ là thực khi bạn không có tiền mặt, khoản phải thu, khoản vay hay thậm chí đầu tư chứng khoán đơn thuần trong phạm vi BCTC của doanh nghiệp! Một nhận thức sai lệch nữa bắt nguồn từ thái độ bàng quang của những người lập báo cáo tài chinh.

Dù không thể bỏ qua IFRS 7, hiện nay các công ty ở Malaysia cũng đanh cuẩn bị cho việc công bố thông tin chi tiết về phân tích mức độ rủi ro, phù hợp với cấp độ 3 của Hòa ước Basel II. Các phép đo mức độ rủi ro, tín dụng chịu rủi ro được bù đắp lại nhờ các phân tích độ nhạy cảm bao gồm thử nghiệm khủng hoảng định tính (factor push), các tình huống xấu nhất và hơn thế. Cuối cùng, các phép đo này cũng là một phần không thể thiếu được trong các thuyết minh mở của BCTC với nỗ lực tăng cường tính minh bạch của thị trường và chất lượng BCTC.

Bạn sẽ không bao giờ phải dạo bước trên đường một mình!

Các công ty Malaysia đã sẵn sàng cho nhiệm vụ sắp tới chưa? Trong khi giới tài chinh sở hữu nguồn nhân lực cần thiết để thực hiện kế toán theo giá trị hợp lý, không thể phủ nhận rằng chi phí BCTC sẽ tăng cao nhằm đổi lấy kiến thức đầu tư đã được hoàn thiện. Nghiên cứu thực nghiệm hiệu quả thực hiện kế toán theo giá trị hợp lý cd IFRSs tại Vương quốc Anh tán thành cho thấy biến động thu nhập được báo cáo tăng cao không hề ảnh hưởng xấu đến hợp đồng nợ và các công ty cung cấp thông tin IFRS tự nguyện lại có giá trị tài sản cao hơn so với các công ty không cung cấp thông tin. Thực ra, chúng ta nên giữ vững niềm tin vào luận đề rằng thị trường tài chinh đã ban tặng một hệ thống BCTC minh bạch đã được kiểm nghiệm thực tế cho các doanh nghiệp và coi như kế toán theo giá trị hợp lý là con đường dẫn tới BCTC đổi mới.

Tập đoàn BDO Binder đã sẵn sàng chìa tay ra giúp các công ty vượt qua thử thách BCTC đang tới với một loạt chuyên gia có khinh nghiệm và không ngừng học hỏi luôn sẵn sàng phục vụ những người có tâm huyết với nghề kế toán.

Theo QUẾ CHI -Tạp chí kế toán số 77

Trích từ: http://www.tapchiketoan.com/


Lợi thế thương mại – những vấn đề cần làm rõ

Theo VAS 04 - Tài sản cố định (TSCĐ) vô hình thì lợi thế thương mại (LTTM) là “Nguồn lực vô hình doanh nghiệp (DN) có được thông qua việc sáp nhập DN có tính chất mua lại được ghi nhận là LTTM vào ngày phát sinh nghiệp vụ mua” (đoạn 08); Đồng thời, cũng quy định 03 có đặc điểm của tài sản đó tính xác định được, quyền kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.

Cụ thể: “LTTM phát sinh từ việc sáp nhập DN có tính chất mua lại được thể hiện bằng một khoản thanh toán do bên đi mua tài sản thực hiện để có thể thu được lợi nhuận trong tương lai” (đoạn 09); “DN nắm quyền kiểm soát một tài sản nếu DN có quyền thu lợi ích kinh tế trong tương lai mà tài sản đó đem lại, đồng thời có khả năng hạn chế sự tiếp cận của các đối tượng khác đối với lợi ích đó. Khả năng kiểm soát của DN đối với lợi ích ích kinh tế trong tương lai từ TSCĐ vô hình, thông thường có nguồn gốc từ quyền pháp lý” (đoạn 11); “lợi ích kinh tế trong tương lai bao gồm: tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, hoặc lợi ích khác xuất phát từ việc sử dụng TSCĐ vô hình” (đoạn 15)...

Xuất phát từ cách ghi nhận và đặc điểm của tài sản đoạn 32 quy định “Chi phí phát sinh để tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng không hình thành TSCĐ vô hình vì không đáp ứng được định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận trong chuẩn mực này, mà tạo ra LTTM từ nội bộ DN. LTTM được tạo ra từ nội bộ DN không được ghi nhận là tài sản vì nó không phải là nguồn lực có thể xác định được, không được đánh giá một cách đáng tin cậy và DN không kiểm soát được”.

 

Từ quy định của VAS 04 ta thấy rằng LTTM có nguồn hình thành là do quá trình sáp nhập DN và được tạo ra từ nội bộ DN nhưng không được ghi nhận là tài sản trên Báo cáo tài chính. Đồng thời VAS 04 cũng không quy định các ghi nhận và xử lý LTTM như thế nào.

Cũng quy định về vấn đề này, VAS số 11 – Hợp nhất kinh doanh cho rằng “LTTM là những lợi ích kinh tế trong tương lai phát sinh từ các Tài sản không xác định được và không ghi nhận được một cách riêng biệt”. Và theo đoạn 50 “tại ngày mua bên mua sẽ ghi nhận LTTM phát sinh khi hợp nhất kinh doanh là tài sản; và xác định giá trị ban đầu cả LTTM theo giá gốc, là phần chênh lệch của giá phí hợp nhất so với phần sở hữu của bên mua trong giá trị hợp lý thuần của tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và các khoản nợ tiềm tàng”.

 

Điều này thể hiện LTTM được phát sinh trong quá trình hợp nhất kinh doanh thể hiện khoản thanh toán của bên mua cho những lợi ích kinh tế thu được trong tương lai từ những tài sản không đủ tiêu chuẩn ghi nhận và không xác định được một cách riêng biệt. VAS 11 cũng quy định cách ghi nhận và xử lý LTTM như sau (đoạn 53) “LTTM được ghi ngay vào chi phí sản xuất kinh doanh (nếu giá trị nhỏ) hoặc phải phân bổ dần một cách có hệ thống trong suốt thời gian sở hữu hữu ích ước tính (nếu giá trị lớn). thời gian sử dụng hữu ích phải phản ánh được ước tính đúng đắn về thời gian thu hồi lợi ích kinh tế có thể mang lại cho DN. Thời gian sử dụng hữu ịch của LTTM tối đa không quá 10 năm kể từ ngày được ghi nhận".

Từ những dẫn chứng nêu trên ta có mấy vấn đề cần trao đổi sau:

Thứ nhất, LTTM phát sinh trong quá trình đầu tư (khi đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh, khi đầu tư vào công ty con) và có thể minh họa như sơ đồ sau:

s_.jpg

Theo minh họa của sơ đồ thì bên Đầu tư đầu tư vào bên nhận đầu tư và xảy ra các trường hợp chênh lệch giữa giá phí đầu tư và tài sản thuần (Tổng tài sản – Nợ phải trả) tính theo giá trị hợp lý thì có thể có LTM hoặc LTTM âm hoặc không phát sinh LTTM.

 

Thứ hai, cách thức xác định Lợi thế thương mại. LTTM có thể được tính toán và xác định theo 02 cách sau

Cách 1:

Xác định phần chênh lệch giữa giá hợp nhất kinh doanh và giá trị tài sản thuần theo giá trị ghi sổ (Δ1) = Giá phí HNKD / Khoản đầu tư - (%sở hữu) x Giá trị tài sản thuần của bên bị mua  theo giá trị ghi sổ

Sau đấu xác định phần chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị hợp lý của Tài sản thuần

Chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị hợp lý của tài sản thuần (Δ2) = (%sở hữu) x [Giá trị Tài sản thuần theo giá trị hợp lý  - Giá trị Tài sản thuần  theo giá trị ghi sổ]­­

LTTM = Δ1 - Δ2

Cách 2:

LTTM = giá phí hợp nhất kinh doanh – (%sở hữu) x giá trị tài sản thuần theo giá ­­trị hợp lý

Thứ ba, thời gian khấu hoa của LTTM dương: Căn cứ vào quy định hiện hành – 10 năm. Trường hợp phát sinh LTTM âm thì “bên mua phải xem xét lại giá trị hợp lý của Tái sản, nợ phải trả có thể xác định được, nợ tiềm tàng và xác định giá phí hợp nhất kinh doanh – nếu sau khi xem xét, điều chỉnh mà vẫn còn chênh lệch thì ghi nhận ngay vào lãi hoặc lỗ tất cả các khoản chênh lệch vẫn còn sau kha đánh giá lại”. Điều này có nghĩa là theo ví dụ Lập BCTC HN và ví dụ xác định các khoản lợi nhuận hoặc lỗ trong công ty liên doanh, liên kết của VAS 25 và thông tư 23/2005/TT-BTC thì nếu phát sinh LTTM (cả LTTM âm và LTTM dương thì sẽ được phân bổ hàng năm, còn theo VAS 11 và Thông tư 21/2006/TT-BTC thì nếu phát sinh LTTM dương sẽ được phân bổ hàng năm nhưng nếu phát sinh LTTM âm sẽ ghi nhận toàn bộ vào Thu nhập khác hoặc chi phí khác sau khi xem xét lại (đưa vào TK 711 hoặc 811).

Bên cạnh đó mặc dù theo VAS 11 quy định thời gian khấu hao LTTM dương tối đa là 10 năm, tuy nhiên trong ví dụ minh họa tại Thông tư 23/2005/TT-BTC về LTTM phát sinh khi đầu tư vào công ty liên kết thì thời gian khấu hao lại là 20 năm. Do đó cần thiết phải quy định cách thức xác định LTTM cũng như phương pháp khấu hao LTTM cụ thể đối với cả trường hợp phát sinh LTTM mà không hình thành mối quan hệ công ty mẹ - công ty con.

Thứ tư, phương pháp hạch toán khoản LTTM theo quy định của VAS 11

- Tại ngày mua nếu phát sinh LTTM, kế toán bên mua hoạch toán như sau:

+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được bên mua thanh toán bằng tiền hoặc các khoản tương đương tiên:

Nợ TK 21 – nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...

Nợ TK 242 – LTTM có TK  111, 112, 121

+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thực hiện bằng việc bên mua phát hành cổ phiếu:

Nợ TK 221 – nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131,138...

Nợ TK 242 – LTTM

Nợ TK 4112 – thặng dư vốn cổ phần (nếu giá phát hành < mệnh giá)

Có TK 4111 – vốn đầu tư của chủ sở hữu (theo mệnh giá) hoặc Có TK 4112 – thặng dư vốn cổ phần (nếu giá phát hành > mệnh giá)

Chi phí cổ phiếu thực tế phát sinh:

Nợ TK 4112 / Có TK 111, 112

+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng trái phiếu

Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...

Nợ TK 242 – Lợi thế TM

Nợ TK 3432 – chiết khấu trái phiếu (nếu giá phát hành < mệnh giá trái phiếu)

Có TK 3431 – mệnh giá trái phiếu

Hoặc Có TK 3433 – phụ trội trái phiếu (nếu giá phát hành > mệnh giá trái phiếu).

+ Nếu việc mua bán hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng tài sản là vật tư, hàng hóa:

Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK152, 153, 156, 211, 213, 217...

Nợ TK 242 – LTTM

Có TK 511 – doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Có TK 3331 – thuế GTGT phải nộp

Đồng thời: Nợ TK 632 / Có TK 155, 156...

+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng TSCĐ:

Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...

Nợ TK 242, Nợ TK 214 có TK 211

Đồng thơi: Nợ TK 111, 112, 131... Có TK 711 - giá trị hợp lý của TSCĐ

Có TK 3331 – thuế GTGT phải nộp

+ Định kỳ phân bổ LTTM: Nợ TK 642 / Có TK 242

- Tại ngày mua, nếu phát sinh LTTM âm (bất lợi thương mại), kế toán bên mua hạch toán theo từng trường hợp sau:

+Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được mua bên thành toán bằng tiền mặt hoặc các khoản tương đương tiền:

Nợ TK 221 – nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...

Nợ TK 811 – phần chênh lệch lỗ lãi sau khi đánh giá lại

Có TK 111, 112, 121

Có TK 711 – phần chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại

+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thực hiện bằng việc bên mua phát hành cổ phiếu:

Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...

Nợ TK 811 – chênh lệch lỗ lãi sau khi đánh giá lại

Nợ TK 4112 – thặng dư vốn cổ phần (nếu giá phát hành < mệnh giá)

Có TK 4111 – Vốn đầu tư của Chủ sở hữu (theo mệnh giá)

hoặc Có TK 4112 – thặng dư vốn cổ phần (nếu giá phát hành > mệnh giá)

hoặc Có TK 711 – phần chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại

Chi phí cổ phiếu thực tế phát sinh:

Nợ TK 4112 / Có YK 111, 112

+ Nếu việc mua bán hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng trái phiếu

Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...

Nợ TK 811 – chênh lệch lỗ lái sau khi đánh giá lại

Nợ TK 4343 – chiết khấu trái phiếu (nếu giá phát hành < mệnh giá trái phiếu)

Có TK 3432 – Mệnh giá trái phiếu

hoặc Có TK 3433 – phụ trội trái phiếu (nếu giá phát hành > mệnh giá trái phiếu)

hoặc Có TK 711 – phần chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại

+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thanh toán – tài sản là vật tư,  hoàng hóa:

Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...

Nợ TK 811 – chênh lệch lỗ lãi sau khi đánh giá lại

Có TK 511 – doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp

Hoặc Có TK 711 – phần chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại

 Đồng thời: Nợ TK 632 / Có TK 155, 156...

+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng TSCĐ:

Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...

Nợ TK 811 – chênh lệch lỗ lãi sau khi đánh giá lại

Nợ TK 214 – hao mòn lũy kế

Có TK 211

Đồng thời:

Nợ TK 111, 112, 131..

Có TK 711 – giá trị hợp lý của TSCĐ

Có TK 3331 – thuế GTGT phải nộp

Có TK 711 – chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại

Thứ năm, quá trình đầu tư trải qua nhiều gian đoạn

Hợp nhất kinh doanh thường liên quan tới nhiều  giao dịch trao đổi, như khi  giao dịch mua cổ phiếu liên tiếp. Khi đó, mỗi  giao dịch trao đổi sẽ được bên mua xử lý một cách riêng biệt bằng cách sử dụng giá phí của  giao dịch và thông tin về giá trị hợp lý tại ngày diễn ra từng trao đổi giao dịch để xác định giá trị của lợi thế thương mại liên quan đến từng  giao dịch đó. Do đó, việc so sánh giá phí của các khoản đầu tư đơn lẻ với lợi ích của bên mua trong giá trị hợp lý tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua được thực hiện từng bước. Giá trị hợp lý của tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua có thể chênh lệch tại mỗi ngày diễn ra  giao dịch trao đổi. 

Theo Th.s CHÚC ANH TÚ

Trích từ: http://www.tapchiketoan.com


Tăng cường phân tích báo cáo tài chinh khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế

Việt Nam đã và đang thực hiện cơ chế quản lý thuế mới, người nộp thuế tự khai, tự nộp thuế với chủ trương tăng cường tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật trong thực hiện nghĩa vụ thuế của các tổ chức, cá nhân. Cơ chế này được thực hiện thí điểm vào những năm 2002, 2003, và được áp dụng rộng rãi từ năm 2006, từ sau khi Luật Quản lý thuế ra đời. Đây là bước cải cách quản lý thuế theo hướng hiện đại, tiến bộ, hạn chế việc tiếc xúc trực tiếp với đối tượng nộp thuế nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả quản lý và chống thất thu. Một trong những kỹ năng có liên quan mà cán bộ quản lý thuế phải trau dồi và nâng cao hơn nữa là việc phân tích BCTC của doanh nghiệp (DN). 

Phân tích BCTCDN tại cơ quan thuế

Theo quy định hiện hành, BCTC của DN được lập và gửi cho cơ quan quản lý thuế trực tiếp chậm nhất là sau 90 ngày từ ngày kết thúc năm tài chinh.

Cơ quan thuế thông qua phân tích BCTC phải đạt được các mục tiêu chính sau: Một là, Tổng hợp nắm bắt được doanh thu, lợi nhuận thực hiện trong kỳ của DN. Qua đó, tổng hợp tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; BCTC của DN như là một bức tranh phản ánh toàn bộ tình hình tài chinh DN trong kỳ kế toán. Nếu tinh thông, người phân tích sẽ nhìn thấy những vấn đề nội tại của DN. Trong các chỉ tiêu của BCTC có liên quan đến kết quả kinh doanh thì 02 chỉ tiêu quan trọng là doanh thu và lợi nhuận thực hiện trong kỳ. Đây cũng là 2 chỉ tiêu liên quan nhiều đến xác định nghĩa vụ thuế của DN. Vì thế, không những chủ DN mà cơ quan thuế cũng quan tâm đặc biệt đến các chỉ tiêu này trên BCTC của DN.

Hai là, rút ra tính hợp lý hoặc không hợp lý của các chỉ tiêu báo cáo qua phân tích tổng hợp các chỉ tiêu liên quan trên BCTC. Trong một số trường hợp, DN vì các mục đích khác nhau có thể cố tình làm sai lệch các số liệu phản ánh tình hình thực tế của DN nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế. Chính việc làm sai lệch số liệu của DN sẽ có thể làm “méo mó” báo cáo nộp cho cơ quan thuế, trong nhiều trường hợp qua phân tích BCTC, những điểm bất hợp lý đó sẽ được phát hiện ngày (trước hết là tính logic). Chẳng hạn BCTC DN thể hiện chỉ tiêu tài sản đầu tư hoặc chỉ tiêu tiền vay ngoài trong kỳ tăng nhanh nhưng doanh thu không tăng tương xứng...

Ba là, tham mưu về các quyết định và biện pháp kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật thuế nhằm đảm bảo xử lý về thuế chính xác, kịp thời. Đây cũng chính là các hướng xử lý “hậu phân tích BCTC DN”. 

Một số vần đề cần chú trọng khi phân tích BCTC

Thứ nhất, liên kết phân tích, tổng hợp số liệu qua các năm (thường là 3 hoặc 5 năm), đánh giá xu hướng phát triển của DN, từ đó, nhận xét tổng quát tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Chỉ khi phân tích tổng hợp số liệu trên BCTC và DN trong một thời gian dài nhất định (3 - 5năm) thì người phân tích mới đánh giá khá toàn diện tình hình phát triển của DN và qua đó mới có cách quản lý phù hợp, chính xác nhất.

Thứ hai, các chỉ tiêu quan trọng trong phân tích BCTC là doanh thu, vốn vay ngắn hạn, chi phí trả cho người lao động (tiền công, tiền lương), tài sản cố định, lợi nhuận thực hiện...

Cần lưu ý phân tích các chỉ tiêu như sử dụng lao động, tăng tài sản ngắn với tăng doanh thu tại DN, chi phí nguyên, nhiên liệu...

Thứ ba, đối với cơ quan thuế, do đặc thù nhiệm vụ được giao thì việc đánh giá khái quát nhanh, chính xác tình hình tài chinh và hiệu quả kinh doanh của DN là 2 vấn đề rất quan trọng. Điều đó có nghĩa không những đảm bảo cách tiếp cận hợp lý cho quản lý thu thuế của kỳ hiện tại DN mà còn có cài nhìn toàn diện về xu hướng phát triển của DN đó, từ đó mà có các giải pháp quản lý “dài hơi” đối với DN.

Phương pháp phân tích được sử dụng để đánh giá khái quát tình hình tài chinh của DN là phương pháp so sánh. Người phân tích sẽ tiến hành so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (so sánh bằng số tuyệt đối và bằng số tướng đối giản đơn) trên từng chỉ tiêu phản ánh khái quát tình hình tài chinh và dựa vào biến động cũng như ý nghĩa của từng chỉ tiêu để nêu nhận xét. Để phân tích khái quát tình hình tài chinh của DN được chính xác, khắc phục được nhược điểm của từng chỉ tiêu đơn lẻ (nếu có), các nhà phân tích cần xem xét đồng thời sự biến động của các chỉ tiêu và liên kết sự biến động của chúng với nhau. Từ đó, rút ra nhận xét khái quát về thực trạng và sức mạnh tài chinh cũng như an ninh tài chinh của DN.

Các chỉ tiêu là căn cứ để đánh giá khái quát tình hình tài chinh DN gồm: Tổng số nguồn vốn, hệ số tài trợ (= vốn chủ sở hữu/Tổng số nguồn vốn), hệ số tài trợ, hệ số khả năng thanh toán tổng quát, hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ suất đầu tư v.v..

Bảng đánh giá tổng quát tình hình tài chinh

STT

Chỉ tiêu

Kỳ gốc

Kỳ phân tích

Kỳ phân tích so với kỳ gốc

+(-)

%

1

Tổng số nguồn vốn

       

2

Hệ số tài trợ

       

3

Hệ số tự tài trợ

       

4

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát

       

5

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn

       

6

Hệ số khả năng thanh toán nhanh

       

7

Hệ số khả năng thanh toán của tài sản ngắn hạn

       

8

Hệ số khả năng thanh toán của tiền và các khoản tương đương tiền

       

9

Tỷ suất đầu tư

       

10

Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu

       

 Nội dung quan trọng khác là phân tích hiệu quả kinh doanh. Bản thân hoạt động kinh doanh là một hoạt động kiếm lợi nhuận. Bởi vây, mối quan tâm thường trực không những của DN, của nhà đầu tư mà của các cơ quan quản lý liên quan là hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận DN thu được. Qua phân tích hiệu quả kinh doanh trên các góc độ khác nhau (sức sản xuất, sức sinh lợi, suất hao phí...) các nhà quản lý đánh giá hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời của DN, rộng hơn là các nhân tố, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời. Từ đó, có các đánh giá tổng quát và biện pháp quản lý phù hợp.

Thứ tư, mẫu biểu cũng như kết cấu, bố cục của các BCTC tuy được quy định thống nhất nhưng các vấn đề trong phân tích BCTC là rất phong phú, không theo nhất nhất một mô-tip chung giống như số lượng các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của riêng từng DN. Điều đó đòi hỏi người phân tích phải linh hoạt. Khi phát hiện những vấn đề không bình thường trong BCTC của DN cần áp dụng các cách nắm bắt khác nhau để đảm bảo hiệu quả. Chẳng hạn, với DN thương mại thì cần chú trọng vào các chỉ tiêu giá vốn hàng bán trên bảng cân đối kế toán, so sánh với các chỉ tiêu có liên quan; tuy nhiên đối với các đơn vị vận tải biển thì cần xem xét chỉ tiêu chi phí nhiên liệu và tiền lương, tiền công v.v.. Với từng chỉ tiêu, việc phân tích tuyệt đối hay tương đối, so sánh tương quan lại phải được vận dụng linh hoạt, phù hợp.

Thứ năm, đối với cơ quan thuế, trong nhiều trường hợp còn đòi hỏi tính nhạy cảm của người phân tích BCTCDN để nếu cần thiết có thể tham mưu ra quyết định kịp thời kiểm tra, thanh tra trực tiếp DN, xem xét chứng từ, sổ sách cũng như “mục sở thị” thực tế DN (Quyết định kiểm tra, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế). Kỹ năng này sẽ được hình thành dần trong quá trình khinh nghiệm nhất định làm công tác phân tích, kiểm tra báo cáo của DN

Tóm lại, những vấn đề chung của việc phân tích BCTCDN cần phải được quán triệt sâu sắc và ngày càng nâng cao hơn. Nó là một kỹ năng quản lý và quản trị DN. Điều này càng có ý nghĩa đối với cơ quan thuế các cấp khi chuyển sang áp dụng cơ chế quản lý thuế mới với DN - cơ chế tự khai, tự nộp thuế. Thực tế qua tổng hợp và quan sát tại các cơ quan thuế cho thấy, nơi nào việc kiểm tra tại bàn (tại trụ sở cơ quan thuế) nói chung, phân tích BCTC nói riêng được tổ chức rất chặt chẽ và có chất lượng thì công tác kiểm tra, thanh tra định kỳ cũng như kiểm tra, thanh tra sự vụ tại nơi đó cũng đạt hiệu quả cao hơn nhiều.

Theo NGUYỄN BÁ PHÚ - Tạp chí kế toán số 77

Trích từ: http://www.tapchiketoan.com


Hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động

So với các phương pháp truyền thống, phương pháp ABC (Activity-Based Costing) trước hết quy tập toàn bộ chi phí gián tiếp (các chi phí khác chi phí nguyên liệu trực tiếp, và chi phí lao động trực tiếp) đối với mỗi hoạt động của tổ chức, sau đó phân bổ các chi phí theo hoạt động này vào từng sản phẩm, dịch vụ, hay vào các đối tượng tạo ra hoạt động đó, thông qua các kích tố chi phí (cost driver).
Trong phương pháp truyền thống, tỷ lệ tổng chi phí gián tiếp phân bổ vào thành phẩm thường phụ thuộc vào tỷ lệ của tổng số giờ lao động trực tiếp cần có để làm ra thành phẩm đó. Còn trong ABC, các hoạt động gián tiếp đáng chú ý (như chạy máy, lắp ráp, kiểm tra chất lượng,...) được xác định bởi giám đốc vận hành. Sau đó, chi phí cho các nguồn lực gián tiếp đã tiêu dùng để thực hiện các hoạt động đó sẽ được truy nguyên theo hoạt động thông qua kích tố chi phí thích hợp. Cuối cùng, tập hợp các chi phí của từng hoạt động sẽ được phân bổ tiếp về các thành phẩm thông qua các kích tố chi phí hợp lý khác. Nói một cách hình tượng hơn, hệ thống ABC xé nhỏ chiếc bánh chi phí gián tiếp thành các mẩu bánh tương ứng với mỗi hoạt động nhất định.

Đến đây, có lẽ các bạn vẫn cảm thấy khá mông lung về ABC. Một ví dụ có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề. Từ những năm cuối của thập kỷ 80, công ty Elgin Sweeper của Bắc Mỹ đã áp dụng ABC như sau:

- Bước đầu tiên là nghiên cứu các hoạt động tạo phí, lập danh sách các đơn vị tính phí có thể, cho mỗi hoạt động. Các đơn vị tính phí của Elgin bao gồm: tiền công lao động ($), giờ lao động, số lượng hàng gửi đi, số lượng thành phẩm, số đơn đặt hàng, doanh thu, ngày làm việc, thông báo thay đổi kỹ thuật, thời gian lao động kỹ thuật,... Các chi phí thay đổi với từng đơn vị tính phí được nhận dạng và tính toán.

- Tiếp theo, Elgin thiết lập báo cáo về dây truyền sản xuất cho phép đánh giá hiệu quả của các quyết định phân bổ nguồn lực. Kết quả của việc áp dụng hệ thống xác lập chi phí là sự tham gia của các giám đốc sản xuất vào việc nhận dạng kích tố chi phí và sự xoá bỏ các hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng.

Gợi ý các bước xác lập hệ thống ABC:

1. Xác định các đối tượng tạo phí, các hoạt động, nguồn lực, và kích tố chi phí liên quan. Công việc này cần có sự giúp đỡ của các nhân viên chuyên môn. Kích tố chi phí được chọn dựa trên 2 tiêu chí:

- Quan hệ nhân quả hợp lý giữa kích tố chi phí và lượng tiêu hao nguồn lực.
- Dữ liệu về kích tố chi phí có thê thu thập được.

2. Phát triển một sơ đồ quá trình, biểu thị các luồng hoạt động, nguồn lực và mối quan hệ qua lại giữa chúng. Việc xác định mối quan hệ qua lại là một bước rất quan trọng, rất cần thiết thông qua các nhân viên chuyên môn.

3. Thu thập dữ liệu liên quan tới chi phí và các luồng kích tố chi phí hữu hình giữa các nguồn lực và các hoạt động. Thông qua chỉ dẫn của sơ đồ đã lập, kế toán viên có thể thu thập được thông tin về các chi phí cần thiết và các dự liệu vận hành. Các nguồn dữ liệu có thể là các bản ghi kế toán, nghiên cứu đặc biệt, phỏng vấn, và ước tính của các giám đốc vận hành.

4. Tính toán và diễn dịch các thông tin mới dựa trên hoạt động.

Có thể thấy rằng, phương pháp ABC có thể biến một chi phí gián tiếp thành một chi phí trực tiếp với một đối tượng tạo phí xác định. Việc lựa chọn các hoạt động và kích tố chi phí hợp lý cho phép các nhà quản lý truy nguyên nhiều chi phí gián tiếp như họ đã làm với chi phí nguyên liệu trực tiếp hay chi phí lao động trực tiếp. Vì xác định được nhiều chi phí trực tiếp hơn so với cách thức truyền thống, ABC giúp nhà quản lý có được những báo cáo về chi phí sản phẩm và dịch vụ với độ tin cậy cao hơn nhiều.

Phương pháp ABC phức tạp và tất nhiên là tốn kém hơn các phương pháp truyền thống, vì vậy không phải bất cứ công ty nào cũng đủ điều kiện áp dụng. Tuy nhiên, ABC sẽ là xu hướng tất yếu đối với quản trị bởi:

- Năng lực cạnh tranh dựa trên chi phí giảm thiểu đòi hỏi phải có những số liệu chính xác hơn về chi phí, tránh tình trạng lợi nhuận giả tạo.
- Sự đa dạng hoá ngày một tăng của các sản phẩm và dịch vụ cùng với độ phức tạp của các phân đoạn thị trường. Vì thế, việc tiêu dùng các nguồn lực cũng sẽ thay đổi theo các sản phẩm và dịch vụ.
- Chu kỳ sống của sản phẩm trở nên ngắn hơn do tốc độ phát triển của công nghệ làm công ty không đủ thời gian điều chỉnh giá cả và chi phí.
- Xác định đúng chi phí là một phần quan trọng của việc ra quyết định kinh doanh. Thiếu nó, sự chuẩn xác của quyết định sẽ giảm thiểu.
- Cách mạng trong công nghệ máy tính đã làm giảm được chi phí về tiền bạc lẫn thời gian cho việc phát triển và vận hành hệ thống xác lập chi phí có khả năng truy nguyên nhiều hoạt động.

  Trích từ: http://ketoan.org/

Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 30 Tháng 9 2013 09:49 )  

TV giáo trình điện tử

Chọn ngôn ngữ



Từ điển

Tra từ điển:

 

buaxua.vn

Thời tiết


Copyright © 2014 -  Bản quyền thuộc về Thư Viện Trường Đại Học Hùng Vương Tp.HCM
Địa chỉ : 59 Chế Lan Viên, P. Tây Thạnh, Q. Tân Phú Liên Hệ: 3.8158.062 Email : tv_dhhv@yahoo.com
Thiết kế bởi : Tổ Quản Lý Mạng - Email : admin@hungvuong.edu.vn